HOÀI
NIỆM MỘT VÙNG ĐẤT
Những con đường láng nhựa khang trang, những ngôi nhà cao tầng
tráng lệ, những dòng người đông đúc trong giờ cao điểm gây ách tắc giao thông
là những gì đang hiện hữu tại phường Tân bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Chỉ khoảng 5 , 7 năm nay thôi, mà một vùng đất được coi là nghèo nhất huyện Dĩ
An trước đây đã chuyển mình vươn lên mạnh mẽ. Trong quá trình đô thị hóa nhanh
chóng ấy, cái được cũng nhiều, nhưng cái mất cũng không phải là ít. Là một
người dân bản sứ chính gốc, lại là người đã cùng với quê hương này đi qua những
năm tháng cực kỳ gian khổ trong chiến tranh cho đến hôm nay,vui mừng vì
sự đổi thay mạnh mẻ của quê hương là điều tất nhiên, song đôi lúc hồi tưởng về
một thời “gian lao mà anh dũng” tôi chợt thấy chạnh lòng.
Tân Bình vốn là hai xã
Tân Hiệp và Bình Trị trong chiến tranh được xát
nhập
lại sau ngày thống nhất đất nước. Tuy là hai xã nhưng dân số lúc nhiều nhất
cũng không quá 4000 người. Trước đây người dân chủ yếu sống bằng nghề nông. Số
làm công nhân và dịch vụ không tới 10%.Về kinh tế, xã được xếp vào loại vùng
sâu vùng xa của huyện, và là xã nghèo nhất huyện. Bước vào thời kỳ đổi mới, Tân
Bình cũng chậm phát triển hơn các xã bạn vì địa hình không mấy thuận lợi cho
phát triển công nghiệp. Trong khi các xã chung quanh như An phú, Tân đông Hiệp
nhờ đất gò bằng phẳng nên dễ dàng thu hút các nhà đầu tư, thì Tân bình lại có
khá lớn diện tích bãi bồi ven sông chỉ thích hợp với ruộng một vụ lúa. Một phần
lớn diện tích khác là đất triền đồi khó khăn cả trong canh tác và xây dựng công
trình. Vì vậy khi tất cả các nơi khác hầu như đã bảo hòa thì cơn sóng đầu tư
mới tràn đến Tân Bình. Tuy nhiên cái chậm cũng có cái hay riêng của nó. Đất xấu
nhưng nhiều tiền hơn. Khi mà những cánh đồng mênh mông bằng phẳng chỉ có giá
đền bù khoảng 10.000 đồng/mét vuông ở Tân đông Hiệp, An phú, thì đến Tân Bình
ruông lúa bải bồi ven sông Đồng Nai lại có giá lên đến 70.000 đồng/mét vuông.
Thực tế sự chênh lệch này không phải chỉ là 7 lần mà là trên 10 lần nếu tính cả
chi phí đầu tư cải tạo trên một đơn vị diện tích.Công nghiệp đến đâu thì dịch
vụ cũng mở ra đến đó. Nhà trọ, nhà ở,chợ búa, quán xá, giao thông,xây dựng, vui
chơi, giải trí và hàng ngàn nhu cầu khác của con người đua nhau phát triển.
Không chỉ nhu cầu về đời sống mà nhu cầu về cái chết cũng thay đổi. Đông người
thì nghĩa trang cũng chóng đầy, lại phải quy hoạch thêm đất chôn, lại phải thay
đổi tập quán cải táng thay gì chôn vĩnh viển như trước...
Bây giờ
khi dân số đã tăng hàng chục lần, khi thu nhập đầu người đã vượt qua
ngưỡng đói nghèo và đang tiến vào khá giả, khi mọi nhu cầu cho đời sống hiện
đại dần dần hiện ra, thì những truyền thống tốt đẹp, cũng dần mai một đi.Bây
giờ không có những đám tang mà cả xóm xúm xít lại lo toan từ dựng rạp, mượn bàn
ghế, cho đến khiêng ra tận nghĩa địa để chôn cất.Không có những đám cưới mà anh
em bạn bè cả xóm cùng nhau dựng rạp, vào rừng đốn cây đủng đỉnh,đốn tàu dừa về
làm cổng tân hôn. Cực, nhưng vui làm sao! Những ngày xưa ấy cả làng là một gia
đình. Mà đúng là một gia đình thật. Còn nhớ những ngày tết hàng năm, chúng tôi
thường đi chúc tết từ đầu làng đến cuối làng không bỏ sót một nhà nào.Và những
cái nắm tay nhau, những lời hỏi han chân chất còn hơn vạn lời chúc tụng hoa mỹ
nhưng khiêng cưỡng, giả tạo.Tôi không chê bây giờ hay khen những điều xưa cũ.
Rõ ràng bây giờ có những cái muốn như xưa cũng không còn được. Khi mà cuộc sống
ào ào trôi qua một cách gấp gáp, ai cũng bận bịu với bao công việc thì làm sao
có thể quay quần bên nhau như ngày nào. Vì vậy dịch vụ ra đời và phục vụ
tận răng. Đám cưới, đám tang, đám giỗ,thôi nôi, đầy tháng... chỉ cần một cú
điện thoại là có tất. Vì vậy bây giờ khi đến đám tang ngoài thắp nhang chia
buồn, thì người ta ngồi lại chủ yếu để “vui”. Không đánh bài thì nhậu nhẹt, mọi
việc còn lại có dịch vụ lo hết.Nhưng cũng vì vậy sự gắn kết tình làng nghĩa xóm
dần dần phai nhạt.Không phải chỉ tình làng nghĩa xóm mà cả huyết thống họ hàng
cũng phần lớn xa cách nhạt nhòa.Đất đai có giá, rồi sanh ra tranh giành xâu xé
cả trong gia đình. Chuyện anh em, cha mẹ, họ hàng kiện tụng nhau vì miếng đất
ông bà đã quá quen thuộc. Chuyện nồi da xáo thịt vì một cái ranh đất nhỏ nhoi
đã không còn là chuyện hiếm. Người không có đất thì thèm thuồng ngước
nhìn những người có nhiều đất và đương nhiên là nhà cao cửa rộng cuộc
sống sung túc. Nhưng người nhiều đất thì cũng không tránh khỏi nổi khổ của nhà
giàu.Tiền của bổng nhiên như từ trên trời rơi xuống. Rồi ăn chơi hư hỏng,rời
con cháu xìke ma túy cửa nát nhà tan nhan nhãn khắp đầu trên xóm dưới. Ở cái
làng quê nhỏ bé hiền hòa ngày xưa, bây giờ những chuyện ấy không còn đếm được
trên đầu ngón tay ngón chân nữa. Cả khí hậu và môi trường cũng bắt đầu trừng
phạt con người. Những dòng nước đen ngòm, hôi thối từ các cơ sở sản xuất ngày
ngày đổ ra những dòng suối , những cánh đồng làm hư hại hoa màu, làm ô nhiễm
không khí khiến cư dân trong vùng điêu đứng khổ sở. Sự ô nhiễm đã làm gia tăng
nhiều bệnh tật về đường hô hấp, tiêu hóa ...Còn đâu những dòng suối trong veo
chảy róc rách làm cho buổi trưa hè bổng trở nên dịu mát. Còn đâu cái lanh căm
căm của những ngày giáp tết với kiễu kịt những đoàn người gánh kiệu trên đồng
ra chợ . Không khí ngày xưa ấy sao trong lành và thơm nức mùi đồng nội! Cái mùi
hương mà bây giờ dẫu có lang thang hàng ngày ở cánh đồng còn sót lại hôm nay
cũng không thể nào tìm kiếm được.
Rõ ràng công nghiệp hóa-
hiện đại hóa là xu thế không thể đảo ngược. Song như con diều muốn bay lên cao
càng không thể xa rời cái gốc. Mất gốc con diều sẽ lao nhanh xuống đất.Vun bồi
cho cái “gốc” là điều không thể nào chậm trể được nữa.Tất nhiên Đảng , Nhà nước
cũng đã có nhiều nhiều nghị quyết về xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà
bản sắt dân tộc, nhưng xem chừng sự quan tâm cho nó chưa tương xứng. Mong sao
tới đây, mọi người cùng chung sức chăm lo cho cái gốc để con “ Diều” vững vàng
bay cao hơn nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét